alibaba

Liệu có thể nói “Cạnh tranh là để cho vui”?

Jack Ma đã từng nói “Cạnh tranh là để cho vui” và ông muốn “chiến thắng eBay, thâu tóm Yahoo và cho dừng Google” để có thể xác lập vị thế của thương mại điện tử Trung Quốc rồi biến nó trở thành nền tảng tốt nhất thế giới. Nhưng rồi khi Wanda xuất hiện và bắt đầu cạnh tranh trực tiếp với Alibaba trong thị trường ngành thương mại điện tử, Jack Ma đã phải xem xét lại điều mình nói và thực hiện các hoạt động cạnh tranh một cách nghiêm túc hơn. Vậy là cạnh tranh không đơn giản là để cho vui rồi, nhưng phải bắt đầu phân tích đối thủ cạnh tranh từ đâu?

Trong thị trường cạnh tranh, khi bất cứ một đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn nào bắt đầu gõ cửa của thị trường của bạn thì tốt hơn hết là bạn nên chuẩn bị sẵn sàng cho những thử thách mới. Nhưng trước tiên, để cạnh tranh, bạn cần phải xác định và đánh giá đúng các đối thủ cạnh tranh, từ đó mới có thể biết mình cần phải làm những gì để giữ vững vị thế và tăng trưởng mạnh hơn nữa để chiếm lĩnh vị trí dẫn đầu thị trường.

Bài viết dưới đây sẽ gợi ý cho bạn 6 yếu tố mà bạn nên sử dụng để phân tích các đối thủ của mình:

1. Động lực

Điều đầu tiên bạn cần phải xác định chính là động lực của đối thủ, là lý do tại sao mà họ lại quyết định thâm nhập vào thị trường kinh doanh của bạn và mục tiêu chính của họ là gì?

Một khi bạn đã tìm ra điều đó, bạn có thể xác định xem đối thủ cạnh tranh của mình hiện đang hướng tới mục đích cao cả nào. Từ đó so sánh với mục tiêu của bạn để biết được sự cạnh tranh này có đáng và có hấp dẫn để theo đuổi hay không.

2. Doanh thu

PC113 Prime Competence image

Yếu tố này là rất quan trọng. Hãy xem xét nguồn doanh thu và lợi nhuận chính của đối thủ cạnh tranh là gì? Nghiên cứu đối thủ cạnh tranh về cách thức tăng trưởng và lý do tại sao họ lại thành công như vậy?

Đáp án của những câu hỏi trên giúp bạn định hình rõ ràng các cách thức, từ đó có thể lựa chọn: một là sao chép phương pháp và hai là cố gắng đi trước một bước. Bạn sẽ có thể kiếm tiền với một trong hai lựa chọn, nhưng, bạn sẽ phải dự đoán tiếp chiến thuật của đối thủ trong tương lai hoặc nhanh chóng đổi mới để tiếp tục dẫn đầu thị trường.

3. Các mối quan hệ

Bất cứ một doanh nghiệp nào cũng cần đến các mối quan hệ tốt để phát triển. Hãy nhìn vào điều đó ở các đối thủ cạnh tranh của bạn! Mối quan hệ của họ với khách hàng, nhà cung cấp và với nhiều bên hơn nữa hiện đang như thế nào? Liệu họ có những mối quan hệ đặc biệt với khả năng tạo nên sự khác biệt trong sự phát triển hay không?

Để biết được tất cả những điều đó và giám sát các mối quan hệ của đối thủ, bạn sẽ cần phải kết nối với các bên, đặc biệt là khách hàng của họ và tìm cách khai thác từ càng nhiều nguồn càng tốt

4. Danh tiếng

Hãy nghiên cứu cách mà các bên liên quan, cả nhân viên và khách hàng đã biết đến đối thủ cạnh tranh, sau đó so sánh với cách mà họ phản ứng với thương hiệu của bạn. Liệu dịch vụ khách hàng của đối thủ tốt hơn doanh nghiệp của bạn? Liệu họ có nhiều khách hàng trung thành hay không? Và tại sao lại như vậy?

5. Khả năng phục hồi

Cách thức mà một doanh nghiệp xử lý xung đột nói lên rất nhiều điều về điểm mạnh của doanh nghiệp đó. Làm thế nào mà các đối thủ cạnh tranh của bạn đã quản lý tốt các cuộc khủng hoảng hoặc những đe dọa ảnh hưởng đến danh tiếng của mình? Liệu họ có dự đoán nhu cầu và xu hướng của khách hàng không?

Bạn có thể học hỏi được rất nhiều từ việc đo lường khả năng phục hồi của đối thủ cạnh tranh. Thậm chí nó có thể giúp bạn nhận thức rõ hơn về động lực tiếp thị, sắc thái địa phương và xu hướng toàn cầu.

6. Nhân viên xuất sắc

nhan vien xuat sac

Nhân viên xuất sắc là những cá nhân tài năng, những người có đóng góp quan trọng trong một doanh nghiệp. Vậy, những nhân viên xuất sắc của đối thủ cạnh tranh là ai? Làm thế nào mà họ lại “sở hữu” được những con người tuyệt vời và có tầm nhìn như thế? Và bạn có biết những nhân viên xuất sắc trong công ty của mình là ai không?

Jack Ma luôn coi cạnh tranh là một điều tích cực, và ông đã đúng! Nó có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của một doanh nghiệp mạnh mẽ hơn bất kỳ yếu tố nào khác. Ngược lại, nó cũng có khả năng loại bỏ bạn ra khỏi thị trường nếu như bản thân doanh nghiệp không đủ mạnh, không có khả năng đáp ứng tốt các yếu tố để đảm bảo vị thế của mình.

Nếu bạn là doanh nghiệp duy nhất trong lĩnh vực kinh doanh thì hãy thư giãn và tận hưởng điều đó. Nhưng… đừng quá tự mãn, vì bất cứ lúc nào cũng có các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn đang muốn nhảy vào tranh giành thị trường của bạn. Hãy luôn chuẩn bị sẵn sàng tâm lý và các nguồn lực tốt nhất để cạnh tranh, mà điều quan trọng nhất là đặt ra những câu hỏi đúng để đánh giá chính xác đối thủ.

Nguồn tham khảo: http://www.business2community.com/strategy/lesson-alibabas-jack-ma-dont-ignore-competitors-01183047

tong-hop-ebook-internet-marketing-online-tu-co-ban-den-nang-cao

[CHIA SẺ] Tài liệu tổng hợp Ebook Marketing Online

tong-hop-ebook-internet-marketing-online-tu-co-ban-den-nang-cao

 

Bạn có thể tải trọn bộ Ebook Internet Marketing Online từ cơ bản đến nâng cao tại đây

Nguồn: MediaZ

Screen Shot 2016-07-15 at 13.42.31

[INFOGRAPHIC] Thị trường thực phẩm sạch – Đâu là yếu tố người tiêu dùng mong đợi?

Trước tình trạng thực phẩm “bẩn” tràn ngập trên thị trường như hiện nay. Mặc dù các cửa hàng kinh doanh thực phẩm sạch mọc lên như “nấm sau mưa” nhưng điều này chưa đủ để người tiêu dùng bớt đi mối lo ngại về đồ ăn thức uống hàng ngày. Không thể phủ nhận, nhu cầu đối với thị trường sản phẩm sạch ngày càng tăng cao, nhưng làm sao để đáp ứng được nhu cầu này khi mà từ kiểm chứng từ “sạch” chưa bao giờ là một điều dễ dàng. Infographic sau sẽ cung cấp một số thông tin từ phía khách hàng mà những nhà kinh doanh, doanh nghiệp trong thị trường này cần lưu ý:

F2Screen Shot 2016-07-15 at 13.43.02Screen Shot 2016-08-01 at 08.07.22F

-NTTN-

2000px-Dominos_pizza_logo.svg

Domino’s Pizza: Im lặng chờ chết hay chủ động dập tắt khủng hoảng?

Nhìn lại các cuộc khủng hoảng truyền thông những năm qua, có thể thấy rằng việc chuẩn bị sẵn một kế hoạch truyền thông xã hội vững chắc là bất biến.

Dù cho các nền tảng và kịch bản khủng hoảng có thể thay đổi, nhưng một hằng số vẫn luôn bất biến là: các doanh nghiệp – đối phó với mọi người. Và yếu tố con người thì không đổi.

Xu hướng thay đổi, ý tưởng thay đổi, nhưng những đặc tính cố hữu của con người thì không. Chúng ta luôn có nhu cầu liên kết với những người khác, và chúng ta luôn muốn gây ảnh hưởng đến xung quanh – trong đó có các thương hiệu.

Khi bạn đặt kế hoạch xử lý khủng hoảng truyền thông dựa trên các chân lý và đặc tính đó, dù các xu hướng và nền tảng có thể thay đổi tất cả mọi thứ, thì những chiến lược truyền thông khủng hoảng của bạn vẫn luôn bất biến.

Một cuộc khủng hoảng cường độ mạnh có thể chôn vùi một thương hiệu nếu công ty không phản ứng kịp thời và đúng đắn trước cuộc tấn công ồ ạt của con người.

Một minh chứng điển hình cho lý thuyết này là cuộc khủng hoảng mà Domino’s Pizza phải đối mặt vài năm trước. Các thành công và thất bại của họ là những bài học hoàn hảo cho các công ty ngày nay đang lên kế hoạch xử lý khủng hoảng truyền thông xã hội cho mình.

Cùng nhìn vào các chiến lược và sai lầm của Domino’s Pizza đã thực hiện khi họ phải đối mặt với cuộc khủng hoảng truyền thông vào tháng 4/2009, bạn sẽ học được nhiều bài học từ câu chuyện của họ.

Một cuộc khủng hoảng cường độ mạnh có thể chôn vùi một thương hiệu nếu công ty không phản ứng kịp thời và đúng đắn trước cuộc tấn công ồ ạt của con người.

Sự cố

Trở lại ngày chủ nhật, 12/4/2009, Domino’s Pizza vướng phải scandal khi chính 2 nhân viên thuộc cửa hàng nhượng quyền Domino’s Pizza ở Conover N.C. (Mỹ) đăng tải một video lên Youtube, ghi lại những việc làm ghê tởm và kinh khủng mà họ làm với chiếc sandwich trước khi nó được giao hàng đi khắp nơi, ví như nhét bơ vào lỗ mũi của mình trước khi đặt vào bánh sandwich.

Bạn có thể hình dung những gì xảy ra tiếp theo: Clip nhanh chóng được phát tán như một loại virus lan tràn khắp Internet, đạt hơn 1 triệu lượt xem chỉ sau sau 3 ngày.

Mạng twitter và khắp các diễn đàn xôn xao về clip kinh khủng đó, 65% khách hàng đã đến Domino’s ăn pizza nói rằng họ sẽ không quay trở lại đó lần nào nữa sau khi xem clip này.

Domino’s Pizza đã ngay lập tức dính vào một cuộc khủng hoảng truyền thông xã hội, không giống với bất cứ điều gì họ có thể hình dung.

DominosPizza2-ID4916

Phản ứng của Dominos

Domino’s Pizza đã phạm sai lầm, chắc chắn rồi. Nhưng họ đã đưa ra được chiến lược truyền thông để cứu lấy thương hiệu của mình khỏi đống đổ nát tiềm tàng trước mắt.

Ngay tại thời điểm đó, chuỗi đồ ăn nhanh này vẫn chưa đưa ra ngay được kế sách nào, nhưng kết quả của cuộc khủng hoảng này gần như là một phép màu. Và một công ty xử lý khủng hoảng tốt sẽ biết chính xác họ đang làm gì.

Hãy xem xét những sai lầm và thành công của Domino’s, bạn có thể thấy mình học hỏi được gì cho kế hoạch xử lý khủng hoảng truyền thông của doanh nghiệp mình khi không may có sự cố nổ ra:

Phát triển khách hàng trung thành trước khi một cuộc khủng hoảng nổ ra

Dù chưa ra mặt trước giới truyền thông, nhưng Domino’s Pizza đã nhanh chóng thông báo về cuộc khủng hoảng đến những khách hàng trung thành. Bởi nếu họ không được thông báo, ai mà biết bao lâu sau họ sẽ phát hiện và phản ứng lại cuộc khủng hoảng đó. Và sau đó, bằng nhiều cách, những khách hàng trung thành đã cứu họ.

Một cuộc khủng hoảng truyền thông xã hội sẽ không tự nó biến mất. Nó sẽ luôn tiếp tục tăng cường lực lượng và leo thang ra ngoài tầm kiểm soát.

Phải luôn là người đưa ra phản hồi đầu tiên

Mặc dù Domino’s đã ngay lập tức bắt tay vào hành động và đánh giá đúng tình hình, nhưng họ vẫn mắc sai lầm khi giải quyết sự cố này sau những cánh cửa đóng kín – mà quên rằng đám đông công chúng ngoài kia đang sửng sốt với những vấn đề nghiêm trọng đã xảy ra.

Sai lầm khi chọn cách im lặng của Domino’s càng đổ thêm dầu vào lửa, càng khiến khách hàng thêm phẫn nộ gấp bộn khi cho rằng Domino’s đang quay lưng với những điều kinh khủng mà nhân viên của họ đã làm. Còn Domino’s, họ im lặng vì hi vọng là sự cố sẽ đơn giản là tự biến mất.

Nếu Domino’s dành thời gian để nói “Chúng tôi đang nhận thức được tình hình, chúng tôi đang đối mặt với nó và sẽ đưa ra báo cáo đầy đủ khi đã hiểu rõ hơn”, thì tình thế sẽ được đảo lộn, các thiệt hại tăng thêm không đáng có sẽ không còn cơ hội sinh sôi trong suốt cuộc khủng hoảng nữa.

Chú ý rằng: Một cuộc khủng hoảng truyền thông xã hội sẽ không tự nó biến mất. Nó sẽ luôn tiếp tục tăng cường lực lượng và leo thang ra ngoài tầm kiểm soát.

Xắn tay lên giải quyết ngay

Dominos đã kịp nhận ra rằng cuộc khủng hoảng đã lây lan và leo thang như một đại dịch virus. Công ty ngay lập tức thiết lập một tài khoản Twitter để phản hồi và trấn an khách hàng rằng đây là một trường hợp hi hữu riêng lẻ, và công ty đã thực hiện các biện pháp cần thiết để giải quyết sự cố đáng tiếc này. Họ có thể đã chậm chân, nhưng cuối cùng cũng đã nhận ra sai lầm. Và điều quan trọng là họ đã đến và giải quyết nó.

DominosPizza1-ID4916

Tận dụng sự hỗ trợ mạnh mẽ từ những khách hàng (vẫn còn) trung thành

Khi đã lập tài khoản Twitter, Dominos nhanh chóng đăng một lời xin lỗi lên trang này, trước khi tuyên bố chính thức được phát ra. Sau đó họ đề nghị những người follow Twitter của mình giúp họ lan truyền những thông điệp đó bằng cách chia sẻ (retweet) đường link.

Động thái này đã nhanh chóng làm dịu đi cơn bão đang quần thảo bên ngoài, cho đến khi công ty sẵn sàng đưa ra tuyên bố chính thức của mình.

Phát ra tuyên bố chính thức

Domino’s đã đưa ra lời phản hồi chính thức rất thuyết phục về cuộc khủng hoảng này, đây chính là lí do giúp họ lấy lại quyền kiểm soát cuộc khủng hoảng theo cách tích cực. Chắc chắn thương hiệu phải gánh chịu hậu quả không nhỏ, nhưng không quá lớn như có lẽ phải thế. Thực tế là, những năm sau khủng hoảng đó, Domino’s vẫn là một nhãn hiệu mạnh.

Domino’s đã phản ứng rất tốt khi khống chế được cuộc khủng hoảng nghiêm trọng này, và sau nhiều năm người ta vẫn có thể học hỏi từ cả sai lầm và thành công của họ.

* Hồi đáp cuộc khủng hoảng bằng chính kênh mà nó đã nổ ra.

* Đưa ra video hồi đáp lại video đã gây ra sự cố tai hại.

* Cho thấy sự chân thành và tính nhân bản của nhãn hiệu và công ty.

* Giải thích các biện pháp đã dùng để sửa chữa sai lầm và cứu vãn tình hình.

* Đưa ra các hành động mà công ty đã thực hiện để đảm bảo sự cố khủng khiếp đó sẽ không có cơ hội xảy ra thêm lần nào nữa.

* Đây là minh chứng cho thấy công ty đã nghiêm túc ra sao khi xử lý khủng hoảng – không chỉ bằng tất cả lời nói, mà đi kèm với đó còn là những hành động kiên quyết.

* Chủ tịch công ty Patrick Doyle cũng đã phát ra một video cá nhân để phản hồi sự việc. Tuyên bố chính thức này là một tuyên bố điển hình và đúng đắn nên có.

Bài học

Phó chủ tịch phụ trách truyền thông của Domino’s, Tim McIntyre đã nói: “Có hai điều mà chúng tôi đã không lường trước được. Đầu tiên, chúng tôi đã không dự đoán bản chất hay sức ảnh hưởng quá mức mà video đặc biệt này mang lại, bởi vì có rất nhiều video dạng ‘Này anh bạn, anh nên thấy điều này xảy ra’. Và điều thứ hai là việc bùng nổ sự quan tâm từ các phương tiện truyền thông”.

Một cuộc khủng hoảng cường độ mạnh có thể chôn vùi một thương hiệu nếu công ty không phản ứng kịp thời và đúng đắn trước cuộc tấn công ồ ạt của con người.

Hãy nghe bằng tai và nhìn bằng mắt tất cả các cuộc tranh luận, chứ không chỉ tập trung vào người gây ra lỗi lầm.

Hãy lập sẵn kế hoạch xử lý khủng hoảng truyền thông xã hội như một phần quan trọng trong chiến lược truyền thông của công ty. Và chừng nào còn phải giải quyết các vấn đề liên quan đến con người, thì sẽ còn vô vàn những tinh chỉnh thiên biến vạn hóa cho chiến lược truyền thông của bạn. Về cơ bản, hãy đầu tư một lần (cho bản kế hoạch) và thực hành thường xuyên.

Nguồn: Cafebiz

Theo: Trí Thức Trẻ

telefilm-2016-1468296706829

Datasection Việt Nam tham dự Telefilm 2016:Thấu hiểu người xem truyền hình qua mạng xã hội

Telefilm 2016, Datasection Việt Nam tham gia diễn thuyết tại hội thảo “Vai trò và sự ảnh hưởng của mạng xã hội đến ngành công nghiệp truyền hình” cùng với các diễn giả là những khách mời đến từ CNN (Mỹ), CJ E&M (Hàn Quốc) và VTV (Việt Nam).

Telefilm là sự kiện hàng năm dành cho các đơn vị chuyên ngành truyền hình, được tổ chức dưới sự chủ trì của Đài Truyền hình Việt Nam, Trung tâm Quảng cáo và Dịch vụ Truyền hình (TVAd) phối hợp cùng Công ty Cổ phần Adpex (Adpex JSC) thực hiện.

telefilm-2016-1468296706829

Sau 3 năm được tổ chức, sự kiện năm nay quy tụ hơn 350 gian hàng của 200 đơn vị đến từ 15 quốc gia và vùng lãnh thổ, đa phần là những nền công nghiệp điện ảnh và truyền hình phát triển như Hoa Kỳ, Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn độ, Thổ Nhĩ Kỳ, Trung Quốc, Malaysia, Thái lan, Singapore, Hồng Kông, Đài Loan,… Về phía Việt Nam, sự kiện thu hút sự tham gia của các đài truyền hình trong cả nước và những đơn vị lớn về công nghệ, sản xuất chương trình truyền hình hiện nay như Cát Tiên Sa, BHD, Lasta, Sóng Vàng, ADT, Sunrise, Việt com, Dolphin…

Telefilm 2016, Datasection Việt Nam tham gia diễn thuyết tại hội thảo “Vai trò và sự ảnh hưởng của mạng xã hội đến ngành công nghiệp truyền hình” cùng với các diễn giả là những khách mời đến từ CNN (Mỹ), CJ E&M (Hàn Quốc) và VTV (Việt Nam). Là một trong 4 sự kiện chính được tổ chức tại triển lãm, Hội thảo hứa hẹn sẽ mang đến những nội dung hấp dẫn xoay quanh các chủ đề: Thấu hiểu người xem truyền hình qua mạng xã hội; Giới thiệu trường hợp thành công của CNN trong việc phối hợp biên tập phát sóng truyền hình; Giới thiệu “mô hình kinh doanh 3600” – Trường hợp kinh doanh trên nền tảng số, ưu điểm của mạng xã hội.

Chuỗi các hội thảo, tọa đàm, đối thoại chuyên môn có chất lượng cao của nhiều chuyên gia hàng đầu được tổ chức tại Telefilm 2016 gồm:

– Hội thảo “Công nghệ mới trong sản xuất chương trình truyền hình” của Đài THVN. Với sự chia sẻ kinh nghiệm của các chuyên gia đến từ Đài THVN và hãng Grassvalley – Đông nam á, hứa hẹn mang lại nhiều thông tin hữu ích về Quy trình kiểm soát âm lượng, từ tiền kỳ, hậu kỳ tới phát sóng; Ứng dụng công nghệ IP UHD trong thiết kế các cụm Studio vận hành theo mô hình Data center.

– Hội thảo “Vai trò và sự ảnh hưởng của mạng xã hội đến ngành công nghiệp truyền hình”. Buổi thảo luận được chia sẻ bởi diễn giả là những khách mời đến từ CNN (Mỹ), CJ E&M (Hàn Quốc), Datasection (Nhật Bản), VTV (Việt Nam). Với các nội dung hấp dẫn như: Thấu hiểu người xem truyền hình qua mạng xã hội; Giới thiệu trường hợp thành công của CNN trong việc phối hợp biên tập phát sóng truyền hình; Giới thiệu “mô hình kinh doanh 3600” – Trường hợp kinh doanh trên nền tảng số, ưu điểm của mạng xã hội.

– Hội thảo “Xây dựng mạng xã hội bằng giọng nói và thị trường radio từ góc độ tâm lý người Việt” do Đài tiếng nói nhân dân TP Hồ Chí Minh và MegaMedia phối hợp thực hiện. Các chuyên gia sẽ chia sẻ bí quyết thành công của việc biến các chương trình radio thành một mạng xã hội, cách tương tác và vận hành hoạt động của thính giả và radio ngoài giờ lên sóng. Trao đổi về cách thiết lập một Walking – Studio, không cần kỹ thuật viên, điện lưới, chỉ với thiết bị rẻ tiền, có thể cho vào ba lô và lắp đặt một studio trong 3 phút ở bất cứ đâu.

– Hội thảo “Chung tay bảo vệ bản quyền tác giả” do công ty BHD phối hợp với Liên minh các chủ sở hữu quyền. Các diễn giả đến từ Công ty TNHH truyền hình số vệ tinh Việt Nam, Trung tâm sản xuất nội dung số – Đài THVN, đại diện Hiệp hội Điện ảnh Hoa Kỳ sẽ giới thiệu chi tiết các nội dung: Xây dựng và phát triển thị trường cạnh tranh lành mạnh; Việt Nam – một thị trường còn nhiều thách thức; Hành lang pháp lý, công cụ hữu hiệu bảo vệ bản quyền tác giả; Sở hữu trí tuệ, cạnh tranh và thực thi quyền sở hữu trí tuệ; Chung tay bảo vệ quyền tác giả.

Với sự chuẩn bị chu đáo của ban tổ chức và các đơn vị tham gia, chắc chắn Telefilm 2016 sẽ tiếp tục là một sự kiện hấp dẫn, phát huy được tối đa hiệu quả kết nối cho ngành phim và truyền hình.

Các hoạt động chính Telefilm 2016:

Ngày 13/7
09h00 – 09h30 : Lễ Khai mạc Triển lãm
09h35 – 10h30 : Đoàn đại biểu tham quan các đơn vị tham dự Triển lãm
10h00 – 12h00 : Hội thảo 1: “Chung tay bảo vệ bản quyền tác giả” ;
10h00 – 12h00 : Chương trình của VTV24 truyền hình trực tiếp từ Telefilm
14h00 – 16h30 : Hội thảo 2: Truyền hình“Công nghệ mới trong sản xuất chương trình truyền hình”
Ngày 14/7
09h00 – 11h30 : Hội thảo 3: “Vai trò và sự ảnh hưởng của mạng xã hội đến ngành công nghiệp truyền hình”
12h00 – 13h00 : Bữa trưa vui vẻ truyền hình trực tiếp từ Telefilm
14h00 – 16h30 : Hội thảo 4: “Xây dựng mạng xã hội bằng giọng nói và thị trường radio từ góc độ tâm lý người Việt”
Ngày 15/7
09h00 – 11h30 : Dành cho khách nước ngoài tham quan Đài Truyền hình Việt Nam
14h00 – 16h00: Truyền hình trực tiếp “Ngày trải nghiệm cùng VTV7”.

-NTTN-

Tylenol1-ID6247

[Case-study] Khủng hoảng thuốc gây tử vong và bài học từ Tylenol

Cuộc khủng hoảng Tylenol là một trong những case study điển hình nhất trong lịch sử khủng hoảng truyền thông. Nó cũng là ví dụ hay nhất về cách một doanh nghiệp lớn nên đối phó với khủng hoảng như thế nào.

Nội dung nổi bật:

– Năm 1982, Tylenol, loại thuốc giảm đau bán chạy nhất nước Mỹ, bất ngờ dính vào khủng hoảng truyền thông khi có 7 người tử vong sau khi uống phải thuốc này.

– Johnson & Johnson, công ty mẹ của hãng sản xuất Tylenol, nhanh chóng giải quyết bài toán theo thứ tự: Bảo vệ người tiêu dùng sau đó mới bảo vệ sản phẩm.

– Kết quả: Dù tiêu tốn cả trăm triệu đô la cho thiệt hại, nhưng danh tiếng và thị phần của Tylenol phục hồi nhanh chóng, chỉ sau chưa đầy nửa năm.

Năm 1982, Tylenol là một trong những loại thuốc không cần kê đơn bán chạy nhất nước Mỹ, với hàng trăm triệu người sử dụng. Chỉ riêng loại thuốc giảm đau này đã chiếm tới 19% lợi nhuận của tập đoàn Johnson & Johnson trong 3 quý đầu năm 1982. Tylenol cũng đứng đầu thị trường với 37% thị phần, nhiều hơn cả 4 loại thuốc giảm đau đứng sau cộng lại.

Nếu coi Tylenol là một doanh nghiệp độc lập, lợi nhuận nó mang lại còn nằm trong nửa top trên của bảng xếp hạng Fortune 500.

Tuy nhiên, mùa thu năm 1982, không rõ một kẻ ác ý (hay một nhóm?) đã thay thế những viên nang Tylenol Extra-Strength bằng những viên thuốc tẩm độc xya-nua, sau đó mang chúng trà trộn vào những kệ thuốc của các cửa hàng dược phẩm, và cả thực phẩm tại khu vực thành phố Chicago.

Tylenol1-ID6247

Khi những viên thuốc độc này được phát tán, 7 người đã tử vong. Johnson & Johnson, công ty mẹ của nhà điều chế thuốc Tylenol, bất ngờ rơi vào tình cảnh phải giải thích với cả thế giới tại sao sản phẩm của họ, lại trở thành thứ thuốc độc giết người.

Robert Andrews, trợ lý giám đốc cho bộ phận PR của Johnson & Johnson nhớ lại cách công ty đã phản ứng ngay trong ngày đầu của cuộc khủng hoảng: “Chúng tôi đã nhận được cuộc gọi phóng viên của một tờ báo tại Chicago. Anh ta nói rằng các bác sĩ pháp y vừa có một cuộc họp báo công bố rằng có người đã chết vì ngộ độc thuốc Tylenol. Anh ta muốn công ty đưa ra lời bình luận. Vì đó là những thông tin đầu tiên chúng tôi nhận được, chúng tôi đã nói rằng chúng tôi không hề biết gì về điều này.

Câu trả lời đầy bế tắc của Andrew cho chúng ta thấy một điều, ngày nay các phương tiện truyền thông có thể cập nhật thông tin nhanh tới mức nào. Truyền thông thường là những người có mặt đầu tiên khi xảy ra sự kiện, ghi nhận những thông tin về cuộc khủng hoảng trước cả doanh nghiệp.

Truyền thông thường là những người có mặt đầu tiên khi xảy ra sự kiện, ghi nhận những thông tin về cuộc khủng hoảng trước cả doanh nghiệp.

Những đài truyền hình lớn đều đưa thông tin về Tylenol lên đầu trong ngày đầu tiên của cuộc khủng hoảng. Hàng loạt những thông tin xấu về cái chết của người tiêu dùng, những tít bài trên hàng loạt các tờ báo khiến người tiêu dùng hoang mang, còn Johnson & Johnson thì hiểu rằng, mình đã rơi vào một cuộc khủng hoảng truyền thông nghiêm trọng.

Chỉ trong một tuần đầu tiên, thông qua các phương tiện truyền thông, 90% dân số Mỹ đã biết tới những cái chết ở Chicago. Có tới 125.000 mẩu tin về Tylenol. Nó trở thành thông tin được lan truyền rộng rãi nhất nước Mỹ chỉ sau vụ ám sát Tổng thống Kennedy.

Trước khi việc các viên thuốc bị nhiễm độc được biết tới, hầu hết các phương tiện truyền thông đều nhìn nhận những cái chết của các công dân Mỹ là do sản phẩm. Điều này ảnh hưởng rất xấu tới thương hiệu Tylenol. Báo chí sẽ tiếp tục tập trung vào việc Tylenol là loại thuốc giết người cho tới khi có thêm thông tin về những cái chết. Trong hầu hết trong các cuộc khủng hoảng truyền thông, báo chí sẽ tập trung nhiều vào các khía cạnh giật gân để thu hút người xem, sau đó mới tiếp tục tìm hiểu xem chuyện gì đã thực sự xảy ra.

Biện pháp: Người tiêu dùng phải là số 1 – sản phẩm số 2

Rất may là Johnson & Johnson lúc đó có một lãnh đạo tài ba. Chủ tịch của Johnson & Johnson thời điểm đó, James Burke, đã phản ứng lại những thông tin tiêu cực trên báo chí bằng việc thành lập một đội ngũ chiến lược gồm 7 người.

JamesBurke-ID6247

James Burke, Chủ tịch của Johnson & Johnson vào thời điểm xảy ra khủng hoảng

Nhiệm vụ đầu tiên mà Burke đặt ra đó là “Chúng ta sẽ bảo vệ người tiêu dùng bằng cách nào?” và nhiệm vụ thứ hai mới là “Chúng ta sẽ cứu lấy sản phẩm này (Tylenol) ra sao.

Đúng theo thứ tự của từng thông điệp, hành động đầu tiên của công ty đó là lập tức báo động đến người tiêu dùng trên toàn quốc, thông qua truyền thông, để người tiêu dùng ngừng sử dụng bất kỳ dạng Tylenol nào. Công ty cũng thu hồi tất cả những viên nang Tylenol từ kệ thuốc ở Chicago và các khu vực lân cận. Sau khi thu hồi thêm được các sản phẩm bị nhiễm độc, Tylenol đã được lệnh thu hồi trên toàn nước Mỹ.

Thông qua việc thu hồi tất cả các viên nang Tylenol, dù trên thực tế những viên thuốc có tẩm xya-nua không phải quá nhiều, và chỉ xoay quanh khu vực Chicago, Johnson & Johnson đã cho công chúng thấy họ đang làm điều tốt nhất để bảo đảm an toàn cho cộng đồng, dù chi phí cho việc thu hồi lên tới nhiều triệu đô la. Mục đích chính của hành động này là để mọi người thấy Tylenol chỉ là nạn nhân của một hành vi tội phạm nguy hiểm, độc ác.

Johnson & Johnson cũng sử dụng các công cụ truyền thông, bao gồm cả PR và quảng cáo để truyền bá thông điệp của mình trong suốt cuộc khủng hoảng. Johnson & Johnson nhờ truyền thông để cảnh báo cả nước ngừng sử dụng Tylenol. Trong tuần đầu tiên của khủng hoảng, Johnson & Johnson đã thành lập đường dây nóng cho khách hàng, đưa ra câu trả lời cho những vấn đề liên quan đến độ an toàn của Tylenol. Công ty này đã thành lập được dây miễn phí đễ đưa và tiếp nhận thông tin từ báo chí liên quan đến vụ khủng hoảng.

Johnson & Johnson đã cho công chúng thấy họ đang làm điều tốt nhất để bảo đảm an toàn cho cộng đồng, dù chi phí cho việc thu hồi lên tới nhiều triệu đô la.

Trước khi xảy ra cuộc khủng hoảng, Johnson & Johnson không thực sự thân thiện với báo chí, tuy nhiên, cuộc khủng hoảng đã cho công ty này thấy lợi ích từ việc truyền thông rộng rãi những cảnh báo tới công chúng, cũng như lập trường của công ty trên báo chí.

Dù tiêu tốn rất nhiều chi phí cho việc xử lý khủng hoảng, cuối cùng Johnson & Johnson đã khống chế thành công cuộc khủng hoảng có nguy cơ ảnh hưởng tới sự tồn tại của cả công ty.

Sau khi trấn an dư luận, Johnson & Johnson còn một nhiệm vụ nữa đó là giới thiệu lại sản phẩm sau khi niềm tin quay trở lại với người tiêu dùng. Hãng này đưa ra 4 biện pháp cụ thể:

1. Chỉ trong vòng 6 tháng, nhà sản xuất đã tung ra hộp đựng Tylenol được thay đổi sang loại có 3 lớp khóa. Đây là loại vỏ rất khó can thiệp vào bên trong. Johnson & Johnson cũng thay thế viên nang Tylenol sang dạng nén, loại khó nhiễm độc hơn nhiều.

2. Để khuyến khích người tiêu dùng mua sản phẩm của mình, hãng sản xuất đã đưa ra phiếu khuyến mãi trị giá 2,5 USD. Các đường dây nóng hỗ trợ khách hàng qua tổng đài và qua cả báo chí luôn sẵn sáng.

3. Để lấy lại thị phần đã mất, Johnson & Johnson quyết định hạ giá sản phẩm tới 25%, bất chấp những thiệt hại mà hãng phải chịu

4. Trên 2250 nhân viên bán hàng được giao nhiệm vụ liên hệ với cộng đồng y tế để khôi phục niềm tin với sản phẩm.

Tylenol2-ID6247

Kết quả

Chỉ trong vòng 5 tháng kể từ sau thảm họa, Johnson & Johnson đã lấy lại 70% thị phần so với thời điểm trước đó. Không chỉ vậy, Tylenol còn khẳng định được giá trị lâu dài của thương hiệu trong mắt công chúng. Dù tiêu tốn tới cả trăm triệu đô la để khắc phục sự cố sau khủng hoảng, nhưng thời gian phục hồi của Johnson & Johnson ngắn hơn các thương hiệu khác rất nhiều. Với những thương hiệu không nhanh chóng tập trung xử lý khủng hoảng, như vụ Perrier chẳng hạn, đã phải chịu những tác động mang lại kéo dài tới 5 năm.

Trên thực tế, những nỗ lực của Johnson & Johnson còn được tưởng thưởngkhi người tiêu dùng còn chuyển từ loại thuốc giảm đau họ hay dùng sang Tylenol.

Cuộc khủng hoảng Tylenol là một trong những case study điển hình nhất trong lịch sử khủng hoảng truyền thông. Bất cứ nhà lãnh đạo nào đã từng phải đối phó với công chúng, đều phải đánh giá cao cách mà Johnson & Johnson xử lý vụ Tylenol. Đây là ví dụ điển hình về cách một doanh nghiệp lớn nên đối phó với khủng hoảng như thế nào.

Tylenol chỉ là một trong hàng ngàn công ty dính vào khủng hoảng lớn, có nguy cơ hủy diệt cả công ty nếu không xử lý nhanh chóng. Năm 1999, Coca-cola cũng đã dính vào cuộc khủng hoảng lớn tương tự.

Nick Purdom, một cây viết trên PR Week đã từng viết rằng: “Ngành quan hệ công chúng (PR) đang có một vai trò cực kỳ quan trọng trong việc hỗ trợ doanh nghiệp tìm ra và quản lý những rủi ro nguy cơ ảnh hưởng tới danh tiếng của mình”.

Nguồn: Brands Việt Nam

report-hanh-vi-nguoi-tieu-dung-VN-696x386

[CHIA SẺ] Báo Cáo Nghiên Cứu Về Hành Vi Người Tiêu Dùng Online Việt Nam 2016

report-hanh-vi-nguoi-tieu-dung-VN-696x386

Đây là tổng hợp số liệu từ bài thuyết trình của Google cho đối tác sử dụng dịch vụ của Google.

Những điểm nổi bật trong bài báo cáo nghiên Cứu Về Hành Vi Người Tiêu Dùng Online Việt Nam 2016 như:

  1. Tìm hiểu hành vi của khách hàng Việt Nam
  2. Con đường chuyển đổi
  3. Tiếp cận người dùng trong từng khoảnh khắc
report-hanh-vi-nguoi-tieu-dung-VN-3

85% người Việt tìm đến internet đầu tiên khi tìm kiếm thông tin

report-hanh-vi-nguoi-tieu-dung-VN-2

Người Việt dùng smartphone cho nhiều hoạt động khác nhau.
report-hanh-vi-nguoi-tieu-dung-VN-1
Người Việt dùng di động nhiều hơn là máy tính.

Bạn có thể download miễn phí theo link dưới đây.

Vietnamese-online-insight-by-Google

Nguồn: Cuộc sống agency

iStock_000043585362_WeListen

Thấu hiểu khách hàng – Dễ hay khó?

Trước giờ vẫn có câu: “Khách hàng là thượng đế”. Và “thượng đế” thì thường rất khó chiều. Chính vì vậy, nắm bắt tâm tư, suy nghĩ và hành vi hay còn gọi là “thấu hiểu khách hàng” vẫn luôn là một việc vô cùng quan trọng. Tuy nhiên, đây vốn không phải việc dễ dàng gì. Vậy làm sao để thấu hiểu được khách hàng?

Sự thấu hiểu khách hàng (Customer insight) là việc (tìm cách) thấu hiểu một cách sâu sắc ý nghĩ, mong muốn, sự thực ẩn dấu nằm sâu trong tâm trí người tiêu dùng chưa được nói ra rõ ràng ở mức độ vượt trên cả những gì khách  hàng tự xác định cho bản thân. Customer insight tìm kiếm động cơ bên trong thúc đẩy, điều khiển hành vi ứng xử và các quyết định, hành động của con người.

Location-analytics-insight-1080x675

Nguồn: Sưu tầm

Mỗi doanh nghiệp sẽ có riêng cho mình: (i) một tập khách hàng đã sử dụng sản phẩm, dịch vụ do chính doanh nghiệp trực tiếp phân phối, sản xuất, (ii) hàng ngàn khách hàng tiềm năng, (iii) một danh sách các đối thủ cạnh tranh.

Vậy làm thế nào để:

  • Khách hàng tiềm năng trở thành khách hàng?
  • Khách hàng trở thành khách hàng trung thành?
  • Khách hàng chọn doanh nghiệp bạn chứ không phải đối thủ cạnh tranh?

Trong thời đại ngày nay, việc đưa ra quyết định mua hàng không đơn giản chỉ dừng lại ở nhu cầu sinh lý nữa mà các nhu cầu về an toàn, nhu cầu xã hội, nhu cầu về được quý trọng và nhu cầu được thể hiện mình ngày càng được tăng lên.

Tháp_nhu_cầu_của_Maslow

Nguồn: Sưu tầm

Các doanh nghiệp thường tự hỏi sản phẩm của mình đang đáp ứng nhu cầu nào của khách hàng, từ đó lên chiến lược nhắm đến tập khách hàng mục tiêu. Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp nào cũng đặt câu hỏi:

  • Nhóm khách hàng mục tiêu đó cần gì nhất ở sản phẩm của doanh nghiệp?
  • Tại sao họ trả tiền cho chúng ta? Hoặc tại sao họ từ chối chúng ta?

Trong sản xuất: Khách hàng cần gì – Sản xuất ấy. Trong bán hàng: Khách hàng cần gì – Bán ấy. Trong truyền thông, Pr: Khách hàng quan tâm gì – Nói ấy.

Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp nào cũng đang làm tốt điều này.

Ví dụ khách hàng của hãng Honda nói: “Tôi có nhu cầu đi lại, tôi mong muốn có 1 chiếc xe gắn máy để đáp ứng nhu cầu này. Chiếc xe gắn máy ấy phải bền, tiết kiệm nhiên liệu và tương đối có thể giúp tôi nhìn có vẻ sang trọng hơn một tí”.

Ở đây, “bền, tiết kiệm nhiên liệu, sang” chính là Insights của khách hàng. Hãng Honda cảm thấy có thể tận dụng Insights này dựa vào năng lực sản xuất kinh doanh của mình, mà đưa ra thị trường dòng sản phẩm mang nhãn hiệu Future.

Thông qua lắng nghe lời nói của khách hàng, hãng Honda đã đưa ra được sản phẩm để đáp ứng nhu cầu của khách hàng hay nói cách khác Honda đã thấu hiểu được khách hàng của mình. Và Honda đã kết hợp giữa mong muốn của người tiêu dùng với khả năng đáp ứng sản xuất của mình rồi từ đó đưa ra sản phẩm thích hợp.

Một ví dụ khác như việc bán bếp điện, bếp từ: Thời gian trước, khách hàng quan tâm đến “bếp bền, chế độ bảo hành tốt”. Các đại lý bếp ngày ngày đưa đi đưa lại thông điệp: bếp bền 10 năm không hỏng, bảo hành nhanh chóng”.

Ngày nay xã hội phát triển, các bà nội trợ bận rộn hơn, họ quan tâm đến “Làm nóng nhanh, nấu nhanh” để tiết kiệm thời gian. Thử hỏi thông điệp trước có còn phù hợp, có làm khách hàng chọn bạn thay vì cả ngàn đối thủ cạnh tranh.

13639466_939162586195157_409679736_o

Nguồn: Thống kê Datasection Việt Nam

 

Vậy làm sao để thấu hiểu khách hàng, bài viết xin đưa ra một số gợi ý như sau:

  1. Luôn lắng nghe và thấu hiểu khách hàng

Lắng nghe & thấu hiểu là nguyên tắc quan trọng trong lĩnh vực quan hệ giao tiếp giữa người với người, là chìa khóa để có được cuộc giao tiếp hiệu quả. Nếu muốn gây ảnh hưởng đối với một người thì điều đầu tiên là bạn cần phải hiểu người đó.

Một số phương pháp có thể giúp thấu hiểu khách hàng:

  • Nhắn tin, gọi điện thoại chăm sóc và nhận phản hồi của khách hàng;
  • Lắng nghe phản hồi của khách hàng qua mạng xã hội – Social listening;
  • Phát phiếu khảo sát có quà tặng;
  • Trao đổi cởi mở với khách hàng về sản phẩm dịch vụ của Doanh nghiệp sau khi khách đã mua hàng;

Và một nguyên tắc cần nhớ, đừng ngắt lời hay phê bình khách hàng khi họ đang chia sẻ.

  1. Hãy luôn đặt câu hỏi “Tại sao”

Để giải quyết bài toán Customer Insight – đơn giản là bạn hãy đặt các câu hỏi “Tại sao” cho các hành vi của khách hàng/người tiêu dùng sản phẩm, và tìm cách giải đáp nó một cách thấu đáo nhất.

  1. Nắm bắt cơ hội

Người tiêu dùng luôn muốn nhận được thông điệp phù hợp với họ, trên phương diện cá nhân, theo nhu cầu và sở thích của mình vì vậy các doanh nghiệp cần thật sự hiểu khách hàng của mình tại một thời điểm này họ muốn gì, họ cần gì để từ đó ngay lập tức đáp ứng thông qua những sự kiện, hình ảnh.

Nếu một công ty hiểu được điều gì thúc đẩy hành vi tiêu dùng, chắc chắn họ sẽ có những chiến lược để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng. Việc hiểu các nhu cầu của khách hàng để xây dựng nên chiến lược dịch vụ khách hàng của công ty là một việc làm cần thiết và đem lại hiệu quả thực sự bền vững. Thấu hiểu khách hàng, thấu hiểu nhu cầu luôn là chìa khóa vạn năng cho thành công của mọi doanh nghiệp, vì nhu cầu của con người là không giới hạn.

-PS-

Tự tổng hợp và sưu tầm

canh tranh sua

Infographic – Cuộc đối đầu của 3 ông hoàng ngành sữa

Vốn được xem là chủ lực của ngành sữa, thị trường sữa nước luôn có sự cạnh tranh gay gắt giữa các thương hiệu mà dẫn đầu là Vinamilk, Dutch Lady và TH True Milk. Infographic sau đây sẽ cho bạn một cái nhìn về sự đối đầu của 3 thương hiệu này trên mạng xã hội.

Screen Shot 2016-07-07 at 16.00.28Screen Shot 2016-07-08 at 08.55.44Screen Shot 2016-07-08 at 10.23.35
Screen Shot 2016-07-08 at 08.55.21

-NTTN-

Screen Shot 2016-07-06 at 08.26.23

5 lưu ý xử lý khủng hoảng truyền thông cho doanh nghiệp

Quản lý khủng hoảng truyền thông là một khoa học và còn là một nghệ thuật. Việc quản lý khủng hoảng đòi hỏi người làm quản lý phải biết nghiên cứu, phân tích thông tin nhanh nhạy, ra quyết định chính xác, không chỉ đặc biệt quan trọng đối với những DN lớn sở hữu những thương hiệu “tiền tỷ” mà còn cần thiết cho các DN nhỏ hay doanh nhân mới khởi nghiệp.

Screen Shot 2016-07-06 at 08.26.23

Từ vụ “con ruồi 500 triệu đồng” của Công ty Tân Hiệp Phát, vấn đề tiêu cực xảy ra tại Agribank, “vật thể lạ“ trong chai nước ngọt của Coca – Cola, đến vụ khăn giấy ướt của BabyCare hay quảng cáo sai sự thật của Kangaroo… đều có cái kết chung là ảnh hưởng tiêu cực về uy tín, hình ảnh và cả tài chính của DN.

Dưới đây là 5 lưu ý đối với DN trong công tác quản lý khủng hoảng:

Mạng xã hội (MXH) đóng vai trò rất quan trọng.

Nếu như trước đây, tin tức chỉ được lan truyền qua các kênh truyền thông chính thống như báo chí thì ngày nay MXH đã có vai trò cực kỳ quan trọng. Với khoảng 1/3 dân số đang sử dụng Facebook tại Việt Nam hiện nay thì bất kỳ người tiêu dùng (NTD) nào cũng có thể trở thành một phóng viên mạng.

Theo một khảo sát nhanh, đa số người tiêu dùng lựa chon Facebook hoặc các diễn đàn để đăng tải các vấn đề về sản phẩm, dịch vụ mình gặp phải. Sau đó mới tới liên hệ bộ phận chăm sóc khách hàng và chỉ có rất ít người nghĩ tới việc gửi thông tin cho báo chí.

Hai trong số các lý do hàng đầu người dùng chọn MXH để phản ánh về vấn đề của mình là nhanh chóng, thuận tiện để đăng tải và dễ dàng nhận được sự ủng hộ của đám đông. Hành vi này có thể khiến một sự cố nhỏ trở nên nghiêm trọng và bùng phát thành khủng hoảng của một thương hiệu chỉ trong một thời gian rất ngắn do thông tin được chia sẻ với tốc độ chóng mặt theo kiểu tâm lý đám đông.

Để có thể nhận biết các vấn đề có khả năng dẫn tới những cuộc khủng hoảng tiềm tàng, DN nên sử dụng những công cụ social monitoring để theo dõi và cảnh báo vấn đề trên môi trường MXH. Bên cạnh đó DN cũng cần soạn thảo những quy định sử dụng MXH dành cho nhân viên để xác định rõ những điều họ nên và không nên làm trên MXH.

(Để quản lý toàn bộ các thông tin trong mạng xã hội liên quan đến doanh nghiệp bạn, có thể tham khảo công cụ hỗ trợ iMonitor)

Xử lý khủng hoảng truyền thông thời gian thực.

Thực tế cho thấy những thông tin xấu lan truyền trên mạng càng được phát hiện sớm chừng nào thì tác động tiêu cực càng được giảm bớt chừng đó. Trong các trường hợp, bộ phận quản lý khủng hoảng cần phải xử lý gọn gàng sự cố trước khi thông tin được lan truyền bởi cộng đồng mạng.

Đối với khủng hoảng truyền thông trên MXH, 48 giờ để hành động là quá lâu và vụ việc có thể đã đi xa tầm kiểm soát của thương hiệu. Chính vì vậy, DN cần chuẩn bị trước kế hoạch phòng ngừa khủng hoảng, liên tục đào tạo nâng cao năng lực cho đội ngũ tham gia và quá trình giải quyết khủng hoảng, và luôn sẵn sàng phát hiện, xử lý những sự cố ngay từ khi có phát sinh.

Minh bạch trong xử lý khủng hoảng.

Các nhóm có liên quan đến DN như người tiêu dùng, khách hàng, cơ quan báo chí hay cơ quan quản lý ngày càng có những đòi hỏi khắt khe đối với trách nhiệm và tính chính trực của DN.

Khi có những lời phàn nàn từ phía NTD hoặc có sự cố xảy ra, điều đầu tiên công chúng muốn biết đó là sự thật và thái độ của DN. Thông tin minh bạch và cách xử lý vấn đề như thế nào là điều công chúng đòi hỏi ngày càng cao.

Ở Việt Nam, khi gặp khủng hoảng, DN thường lúng túng và thụ động. Trong nhiều trường hợp, DN không sẵn sàng tuyên bố những thông tin có liên quan tới cuộc khủng hoảng, gây thiệt hại lớn cho cả công ty và NTD. Với tâm lý sợ “vạch áo cho người xem lưng”, nhiều DN đã bưng bít, cố gắng không để rò rỉ thông tin ra ngoài.

Tối ưu hóa nội dung trên công cụ tìm kiếm.

Với sự phổ biến của internet và MXH như hiện nay, việc bôi nhọ hay tấn công uy tín một thương hiệu là không quá khó khăn. Bất kỳ cá nhân nào cũng có thể đưa lên mạng những nội dung gây ảnh hưởng tới hình ảnh của DN chỉ trong vài cái click chuột.

Vì thế, biện pháp tự phòng vệ tốt nhất khi MXH đóng vai trò ngày một quan trọng trong công tác quản lý khủng hoảng là kết hợp với các công cụ truyền thông số khác để tối ưu hóa nội dung trên công cụ tìm kiếm, quảng bá và truyền tải những thông tin tích cực về DN một cách chủ động và đáng tin cậy.

Một trong những kênh thông tin DN có thể sử dụng để phát triển nội dung chính là kênh “owned media” ví dụ như website, blog, hoặc diễn đàn do chính DN thiết lập và kiểm soát nội dung.

Khi xảy ra tranh luận trên mạng, DN có thể điều hướng các bình luận, thắc mắc của dư luận cùng với những giải đáp của DN trên những “không gian” này. Qua đó, DN có thể chủ động điều tiết ý kiến và dư luận liên quan tới vụ việc theo ý mình.

Sử dụng công cụ pháp lý như biện pháp cuối cùng.

DN cần cân nhắc việc sử dụng các công cụ pháp lý như một “biện pháp cuối cùng”. Công cụ này chỉ nên sử dụng khi DN thấy có cơ sở chắc chắn rằng họ là nạn nhân của việc vu khống.

Việc sử dụng công cụ pháp lý thường không dành được sự ủng hộ rộng rãi của công chúng vì công chúng có thể cho rằng NTD là đối tượng yếu thế và chịu thiệt thòi hơn. Với tâm lý cho rằng DN “lấy thịt đè người”, hình ảnh DN trong mắt công chúng có thể ít nhiều sẽ bị ảnh hưởng khi công cụ pháp lý được sử dụng.

Tuy nhiên công cụ này là một biện pháp hữu hiệu có thể giúp giảm thiểu những tác động tiêu cực đối với DN, đồng thời ngăn chặn những tiền lệ xấu có thể xảy đến với DN trong tương lai. Sau khi sử dụng công cụ pháp lý, DN nên thực hiện các chiến dịch PR phục hồi hình ảnh đã bị ảnh hưởng trước đó.

Tỷ phú Warren Buffett, nhà đầu tư người Mỹ nổi tiếng thế giới đã nói: “Cần 20 năm để xây dựng danh tiếng nhưng chỉ cần 5 phút là có thể hủy hoại nó. Nếu bạn nghĩ về điều đó, bạn sẽ hành động khác”.

Đừng thờ ơ trước những nguy cơ tiềm ẩn có thể gây hại cho doanh nghiệp của bạn.

Nguồn: Doanh nhân Sài Gòn

Pages:«123456»